Cách thức hiển thị: Với lựa chọn “Layout”, người dùng có thể tùy chỉnh cách thức hiển thị của dữ liệu theo hàng ngang, hàng dọc, số liệu trong một trang, tiêu đề đầu cuối….trước khi xuất file và lưu về máy. Hình 3. Nguồn: Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI
Lọc bằng cách chọn giá trị hoặc tìm kiếm Chọn các giá trị từ danh sách và tìm kiếm là những cách nhanh nhất để lọc dữ liệu. Khi bạn bấm vào mũi tên trong cột có tính năng lọc được bật, tất cả các giá trị trong cột đó sẽ xuất hiện trong một danh sách. 1.
Cách 1: Chạy lệnh WMIC tìm số Serial Number Windows. Cách đơn giản nhất để tìm số Serial Number trên máy tính Windows là chạy lệnh WMIC. Để bắt đầu bạn mở cửa sổ Command Prompt. Trên Windows 10 hoặc 8, kích chuột phải vào nút Start chọn Command Prompt. Trên Windows 7, nhấn Windows + R
20 / 08 2020 Tin tức. PubMed là gì? Cách tìm tài liệu trên PubMed. PubMed là thư viện trực tuyến thường được các nhà nghiên cứu khoa học, sinh viên sử dụng làm công cụ tra cứu tài liệu (kể cả Việt Nam). Bài viết này với mục đích giúp các bạn sinh viên, nhà khoa học chưa
Video hướng dẫn cách lấy số liệu thống kê từ trang web của tổng cục thống kê Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu kinh
– Nguồn dữ liệu: Data trên WB được collect từ hơn 30 đối tác của WB nên nếu muốn biết rõ là số liệu bạn đang sử dụng lấy nguồn gốc ở đâu thì bạn có thể click vào từng indicator để tìm hiểu thêm.
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KINH DOANH. TIỂU LUẬN. MƠN KHOA HỌC DỮ LIỆU. ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH BỘ DỮ LIỆU BANK MARKETING. QUA CÁC THUẬT TOÁN TRÊN ORANGE. Giảng viên hướng dẫn: Trương Việt Phương. Mã học phần: 21C1INF50905911. Nhóm sinh viên thực hiện: Dương Trọng Anh.
Nguyen Pham Lam Tung30/03/2021 Có một vài tìm kiếm trên Google mà bạn không muốn ghi lại, bạn đã tìm cách xóa lịch sử tìm kiếm nhưng không thành công. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn cho bạn cách xóa lịch sử tìm kiếm trên điện thoại, máy tính đơn giản và hiệu quả, … Cách xóa lịch sử tìm kiếm trên điện
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Asideway. Thư viện điện tử của Ngân hàng Thế giới gồm 28 chủ đề về các lĩnh vực khác nhau, đang được sử dụng bởi các viện nghiên cứu hàng đầu thế giới, các cơ quan chính phủ quốc tế, các tổ chức nghiên cứu, cố vấn và các tổ chức phi chính phủ. Worldbank eLibrary bao gồm toàn bộ sách báo, tạp chí và văn bản dự thảo do Ngân hàng Thế giới phát hành từ năm 1990 hơn 51000 tài liệu bao quát hơn 28 chủ đề chính về phát triển kinh tế xã hội như tài chính, tăng trưởng kinh tế vi mô và vĩ mô, thương mại quốc tế, luật, thông tin và công nghệ truyền thông, xóa đói giảm nghèo, giáo dục,…
Hướng dẫn tải dữ liệu World bank Bên cạnh nguồn dữ liệu IMF, World Bank cũng tổng hợp rất nhiều bộ dữ liệu quan trọng về các chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế cùng với các dữ liệu về tài chính quốc tế, thương mại toàn cầu, giáo dục… Bài viết sau sẽ minh họa cách tải 1 trong 26 bộ dữ liệu quan trọng của World bank. Bài viết sẽ hướng dẫn cách tải tất cả các chỉ số về phát triển kinh tế của 7 nước ASEAN Campuchia, Indonesia, Lào, Phillipine, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam từ năm 1995 đến 2014. Kết quả được tổng hợp và tải về dưới dạng Excel. Xem thêm 26 bộ dữ liệu quan trọng của World Bank Bước 1 Truy cập vào trang tổng hợp dữ liệu của World Bank tại Trang này sẽ tổng hợp tất cả các bộ dữ liệu sẳn có được tổng hợp tại World Bank. Chúng ta dịch chuyển qua các trang để lựa chọn bộ dữ liệu chứa các chỉ tiêu cần tải. Ở đây, chúng ta chọn bộ World Development Indicators. Bước 2 Chọn quốc gia cần thu thập dữ liệu – Country Bấm vào nút Country, một cửa sổ mở rộng bao gồm tất cả các quốc gia mà World bank có thu thập dữ liệu. Chúng ta có thể bấm icon X để bỏ chọn 20 quốc gia mặc định của WB, từ đó lựa chọn các quốc gia có dữ liệu cần thu thập. Ở đây, tôi chọn 7 quốc gia Đông Nam Á là Campuchia, Indonesi, Lào, Phillipine, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Sau khi chọn xong, bấm nút APPLY CHANGES để chuyển qua bước 3. Bước 3 Chọn các chỉ tiêu quan tâm – Series Bấm vào nút Series để lựa chọn các chỉ tiêu bạn quan tâm. Có rất nhiều chỉ tiêu hơn 1340 chỉ tiêu được tổng hợp trong bộ dữ liệu WDI. Ở đây, tôi thực hiện chọn tất cả các chỉ tiêu này. Bạn cũng có thể thực hiện chọn từng chỉ tiêu mong muốn, tuy nhiên, mất khá nhiều thời gian để lựa chọn từng chỉ tiêu nhất là khi bạn chưa rõ những chỉ tiêu đó nằm ở mục nào, tính toán ra sao. Do vậy, bạn có thể chọn tất cả để tải về dưới dạng Excel rồi sau đó tìm hiểu và Filter các chỉ tiêu quan tâm. Bấm APPLY CHANGES để chuyển qua bước 4.
Sáng ngày 24/4/2015, tại Hội trường A. 103, Cơ sở 59C Nguyễn Đình Chiểu, trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh UEH phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tổ chức buổi giới thiệu và trao đổi về kho dữ liệu của Ngân hàng Thế giới bao gồm MapVietnam, World Bank Open data và Open Knowledge Repository dành cho giảng viên và sinh viên trong và ngoài UEH. Buổi giới thiệu đã thu hút trên 100 giảng viên và sinh viên đến tham dự phần trình bày của các chuyên gia đến từ Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Nội dung trình bày của các chuyên gia gồm hai phần Phần một - Kho dữ liệu của World Bank cung cấp miễn phí toàn bộ hơn bộ số liệu thống kê tại địa chỉ Đó là các số liệu thống kê về nhiều chủ đề phát triển của hơn 200 quốc gia trên thế giới và chuỗi thời gian báo cáo lên đến 50 năm. Phần hai - Bản đồ nghèo của Việt Nam WB vừa ra mắt trang web MapVietnam bằng cả Tiếng Việt và Tiếng Anh với mục đích cung cấp thông tin, số liệu kinh tế - xã hội cấp tỉnh/thành và quận/huyện của Việt Nam cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, các phóng viên, thầy cô giáo, sinh viên và tất cả những người dân cần thông tin về tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương. Bản đồ cung cấp thông tin đa dạng về Việt Nam mà nếu chỉ nhìn vào con số thống kê tổng hợp thì người đọc rất khó hình dung. Đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam trao đổi về kho dữ liệu của World Bank Đại diện Ngân hàng Thế giới trao đổi về bản đồ nghèo của Việt Nam Toàn cảnh buổi giới thiệu và trao đổi Tin, ảnh Phòng QLKH-HTQT và Phòng CTCT
WASHINGTON, Thứ Sáu, ngày 16 tháng 11 năm 2018 - Các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao ở các nền kinh tế mới nổi tạo ra hơn một nửa tổng số việc làm và doanh thu mới, mặc dù chỉ chiếm chưa tới 20% tổng số doanh nghiệp chế tạo và dịch vụ. Những doanh nghiệp này tạo ra hiệu ứng domino cho nền kinh tế khi làm gia tăng nhu cầu và/hoặc mang lại khả năng tiếp cận tốt hơn các yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp cáo mới của Ngân hàng Thế giới, “Doanh nghiệp tăng trưởng cao Thực tế, ảo tưởng và những lựa chọn chính sách cho các nền kinh tế mới nổi” chỉ ra rằng chính khả năng phi thường của các doanh nghiệp tăng trưởng cao đã thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, và họ đang muốn tìm ra biện pháp khuyến khích gia tăng sự hình thành của những doanh nghiệp như vậy để thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Báo cáo dựa trên phân tích chi tiết về động năng của các doanh nghiệp ở Brazil, Bờ Biển Ngà, Ethiopia, Hungary, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Nam Phi, Thái Lan, Tunisia và Thổ Nhĩ phân tích của báo cáo, mối liên hệ giữa năng suất và tăng trưởng cao thường không rõ nét; vì các doanh nghiệp có thể phát triển do nhiều yếu tố khác nhau, ngoài hiệu quả về chuyên môn. Báo cáo cho thấy, trong nhiều trường hợp, những giai đoạn tăng trưởng cao thường khó duy trì và khó dự đoán. Các chính sách được thiết kế để nâng cao động năng của doanh nghiệp và hỗ trợ tạo việc làm không nên chỉ chú trọng vào một số doanh nghiệp có tiềm năng thành công. Thay vào đó, chính sách nên hỗ trợ những yếu tố mà báo cáo đề xuất là “phát triển tài năng kinh doanh ABC” a tăng cường hiệu quả phân bổ, b khuyến khích lan toả từ doanh nghiệp sang doanh nghiệp và c nâng cao năng lực doanh Ceyla Pazarbasioglu, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới về Tăng trưởng Bình đẳng, Tài chính và Thể chế cho biết “Ở nhiều nước, các mô hình tăng trưởng có thể thành công trong quá khứ nay cần điều chỉnh để đáp ứng những thách thức mới và hỗ trợ tạo việc làm. Chúng tôi đang làm việc với các quốc gia khách hàng để phát triển các can thiệp chính sách được thiết kế sao cho phù hợp với những thách thức và khả năng của doanh nghiệp và doanh nhân. Đối với nhiều tổ chức trong khu vực công, việc thực hiện hiệu quả các chính sách đó phụ thuộc vào khả năng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, năng suất và tăng trưởng, đồng thời giám sát và áp dụng những thực hành tốt trên toàn cầu. ”Theo báo cáo, hầu hết các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao ở các nước đang phát triển đều hoạt động trên nhiều lĩnh vực và khu vực khác nhau và phần lớn đều bắt đầu từ doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn. Do đó, báo cáo đề xuất các chính sách công nhằm mục đích thúc đẩy động năng và tăng trưởng của doanh nghiệp không chỉ nên chú trọng vào quy mô, ngành nghề kinh doanh, hàm lượng công nghệ hoặc địa bàn hoạt động như là những tiêu chí lựa chọn chính để thực hiện can thiệp chính cáo cũng khuyến nghị nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận đến dữ liệu cấp doanh nghiệp, tăng cường sử dụng công cụ đánh giá chính sách và mở rộng phạm vi đánh giá, đồng thời xây dựng năng lực thể chế để hỗ trợ tinh thần khởi nghiệp; tất cả đều là những ưu tiên cốt lõi để thực hiện hiệu quả các chính sách thúc đẩy tăng trưởng ông Najy Benhassine, Giám đốc Ban Tài chính, Năng lực cạnh tranh và Đổi mới sáng tạo, Ngân hàng Thế giới “Duy trì tốc độ tăng trưởng cao là một thách thức đối với hầu hết các doanh nghiệp. Trọng tâm của những phát hiện nêu lên trong báo cáo là sự công nhận tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo, liên kết toàn cầu, hình thành mạng lưới, thực hành quản lý tốt và khả năng tiếp cận tài chính để thúc đẩy các giai đoạn tăng trưởng cao. Bản báo cáo đã giải mã những hiểu lầm rằng tăng trưởng cao chỉ có tại một số lĩnh vực cụ thể và và chỉ thường thấy ở doanh nghiệp lĩnh vực công nghệ cao và/hoặc khởi nghiệp. Thay vì tập trung nguồn lực vào việc tìm kiếm“startup kỳ lân[i] tiếp theo” – các nỗ lực này thường là vô ích – các nhà hoạch định chính sách nên đưa ra các chính sách dựa vào chứng cứ thực tiễn để phát huy các yếu tố chúng tôi vừa đề cập. Cách tiếp cận này có thể có hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy năng suất và tăng trưởng doanh nghiệp.”Để tải xuống toàn bộ báo cáo, vui lòng truy cập Những doanh nghiệp start-up được định giá 1 tỷ $ trở lên
Một nền kinh tế có thể tồn tại bao lâu nếu không có các chuyến bay quốc tế đi và đến từ các nước? Kể từ khi dịch COVID-19 bùng phát nhiều quốc gia đã buộc phải đóng cửa. Trước đây, mỗi ngày trên thế giới có trên chuyến bay, nhưng kể từ khi đại dịch hoành hành trong vài tháng nay số lượng chuyến bay đã giảm 60%. Đóng cửa biên giới góp phần hạn chế sự lây lan bệnh dịch, nhưng thiệt hại kinh tế cũng rất lớn, đặc biệt trong các ngành hàng không và du lịch. Áp lực xã hội cũng tăng lên do người thân trong gia đình và bạn bè không thể gặp nhau. Một số nước Đông Á và châu Âu đang mở cửa trở lại nền kinh tế. Câu hỏi bây giờ là tiến hành mở cửa như thế nào mà vẫn giữ được an toàn cho người dân? Tình hình có thể thay đổi rất nhanh, như đã thấy tại Trung Quốc và Đức, khi các ca lây nhiễm COVID-19 xuất hiện trở lại chỉ trong vài ngày. Quyết định nối lại các chuyến bay quốc tế được cân nhắc dựa trên 3 yếu tố chính. Thứ nhất, chỉ nối lại đường bay với các nước cũng nới lỏng đi lại; không thể mở lại đường bay tới các nước vẫn đang đóng cửa. Thứ hai, mở lại đường bay tới các địa điểm đã an toàn; chỉ có như vậy mới giảm thiểu được sự lây lan của virus. Thứ ba, ưu tiên mở lại các tuyến bay có nhiều khách du lịch và mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách không chỉ có nhiệm vụ xem xét tổng thể ba yếu tố này mà còn phải liên tục theo dõi diễn biến của chúng. Hôm nay một quyết định có thể đúng, nhưng vài tuần sau quyết định đó đã có thể trở nên sai lầm và nguy hiểm. Chúng tôi đang xây dựng một bảng dữ liệu tập hợp 3 nguồn dữ liệu lớn và theo thời gian gần như thực kể trên. Thứ nhất là chỉ số mức độ nghiêm ngặt của các chính sách ứng phó dịch COVID-19 của Chính phủ do Đại học Oxford thực hiện Oxford COVID-19 Government Response Tracker, OxCGRT; chỉ số này so sánh các quá trình thực hiện hạn chế đi lại và giãn cách xã hội tại các nước vào các thời điểm khác nhau. Thứ hai là số ca lây nhiễm được báo cáo trong 5 ngày trước đó; đây là chỉ số cho biết về tình trạng y tế tại mỗi nước nguồn Johns Hopkins University. Thứ ba, số chuyến bay giữa các điểm đến theo aviationstack API; chỉ số này cho ta biết về tầm quan trọng về mặt kinh tế của các địa điểm đó. Bảng số liệu này có thể áp dụng tại bất cứ nước nào, nhưng trước mắt chúng tôi sẽ áp dụng cho Việt Nam—nơi đạt nhiều tiến bộ và đi trước trong cuộc chiến chống COVID-19. Trong mấy tuần vừa qua chính phủ Việt Nam đã dỡ bỏ gần như toàn bộ các biện pháp hạn chế trong nước, nối lại các chuyến bay nội địa Hình 1. Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, chính phủ cũng đang xem xét nối lại các chặng bay quốc tế mặc dù số chuyến bay còn rất hạn chế. Thông tin Bảng số liệu Việt Nam được cập nhật cho hàng ngày và hàng tuần và có thể tương tác với độc giả. Số liệu được cập nhật tự động và người dùng có thể xem số liệu bằng cách di chuyển con trỏ để xác định khoảng thời gian cần biết. Cũng trong bảng số liệu này người dùng có thể theo dõi sự thay đổi của ba chỉ số nêu trên từ thời điểm tháng 12/2019. Bảng số liệu có thể giúp các nhà hoạch định chính theo hai cách như sau. Thứ nhất, họ có thể tìm hiểu bảng xếp hạng các nước theo ba chỉ số tại một thời điểm cụ thể. Ví dụ, Hình 2 cho biết thông tin truy xuất vào ngày 25/4/2020, trong đó trục X thể hiện số chuyến bay quốc tế đi các nước khác tại thời điểm trước khi đóng cửa từ Việt Nam trong tháng 1 và 2 năm 2020, và trục Y thể hiện chỉ số hạn chế đi lại cập nhật nhất. Độ lớn của bong bóng thể hiện số ca mới nhiễm trong 5 ngày trước đó. Tại thời điểm đó, những nước mà Việt Nam có khả năng nối lại chuyến bay cao nhất là Hàn Quốc và Trung Quốc bởi đây là hai nước có vai trò kinh tế quan trọng đối với Việt Nam căn cứ vào số chuyến bay. Con số báo cáo các ca lây nhiễm mới trong 5 ngày trước đó ở hai nước này cũng khá thấp và hai nước cũng đã gỡ bỏ nhiều hạn chế đi lại. Thậm chí vào lúc đó cũng có thể xem xét nối lại chuyến bay tới Cam-pu-chia và đặc khu kinh tế Hongkong vì tại hai địa điểm này tình hình an toàn và đi lại khá tự do. Mở cửa với Thái Lan chỉ đáp ứng tiêu chí về số chuyến bay và an toàn y tế, nhưng không đáp ứng tiêu chí hạn chế đi lại do lúc đó Thái Lan vẫn đang đóng cửa một phần. Bảng số liệu cũng giúp các nhà hoạch định chính sách theo dõi tình hình. Nếu so sánh kết quả trên với kết quả ngày 25/6/2020 Hình 3, thì Hàn Quốc vẫn là lựa chọn mở cửa hàng đầu, nhưng Trung Quốc thì không. Lý do ở đây là con số ca lây nhiễm được báo cáo ở Trung Quốc đã tăng và hạn chế đi lại được áp dụng trở lại do dịch mới bùng phát tại Bắc Kinh buộc chính quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết. Ngược lại, Thái Lan lại thăng hạng do tình hình vẫn khá an toàn, chỉ có 12 ca mới lây nhiễm trong 5 ngày trước đó, và đã gỡ bỏ bớt các hạn chế đi lại. Cũng có thể được xem xét mở lại chuyến bay với Nhật Bản vì nước này có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, và không chỉ thế, các ca nhiễm mới ở Nhật đã giảm và hạn chế đi lại cũng đã được dỡ bỏ bớt. Bảng dữ liệu lớn của chúng tôi cung cấp thông tin giúp các nhà hoạch định chính sách ra quyết định về mở cửa trở lại nền kinh tế, cho phép họ cân nhắc các yếu tố như an toàn, lợi ích tài chính, và mức độ đi lại không chỉ tại Việt Nam mà cả ở những nước mà Việt Nam muốn nối lại giao thương. Tuy vậy, phương pháp của chúng tôi chỉ có ý nghĩa tham khảo bởi chất lượng thông tin về COVID-19 phụ thuộc nhiều vào năng lực xét nghiệm của mỗi nước. Và đây cũng mới chỉ là bước đầu, bởi nếu muốn nối lại các chuyến bay quốc tế, phải áp dụng nhiều biện pháp khác nữa, ví dụ kiểm tra trước khi lên máy bay, theo dõi, phản ứng nhanh, để có thể xử lý kịp thời bất kỳ nguy cơ nào. Trong đó quản trị dữ liệu số và chia sẻ thông tin là hai vấn đề cơ bản giúp cung cấp thông tin kịp thời cho công tác ra quyết định. Trong quá trình mở cửa trở lại nền kinh tế sau COVID-19 ta phải xem xét cả các yếu tố định lượng và định tính. Tuy số liệu là một mảng quan trọng, nhưng vấn đề quan trọng nhất ở đây là các lựa chọn chính sách phải vừa đảm bảo sức khỏe người dân, vừa mang lại lợi ích kinh tế. Hy vọng rằng phương pháp phân tích dữ liệu lớn nêu trên sẽ góp phần giải quyết các thách thức này. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Chương trình Hợp tác Chiến lược Chính phủ Úc – Nhóm Ngân hàng Thế giới – Giai đoạn 2 ABP2.
cách tìm số liệu trên world bank